Cây Chùm ngây còn có tên là cây cải ngựa tên khoa học là Moringa Moleifera
(thuộc họ Chùm ngây)

Cây Chùm ngây
I. Nguồn gốc:
Ở vùng Đông nam Á (vùng nhiệt đới và á nhiệt đới “rất phổ biến ở Châu Á,
Châu Phi” đã trồng trên 80 Quốc gia), có mặt ở Việt Nam hàng nghìn năm nay, có
nhiều ở Bình Thuận, Phan Rang, Nha Trang, Đà Nẵng, Phú Quốc, An Giang, ...).
II. Giá trị sử dụng:
1. Giá trị dinh dưỡng:
Cây Chùm ngây là cây đa tác dụng, trong đó tác dụng quan trọng nhất là giá
trị dinh dưỡng do các bộ phận của cây Chùm ngây có nhiều khoáng chất quan trọng,
giàu đạm, vitamin, axitamin.
Theo số liệu của Bộ Y tế công bố: trong lá và hoa của cây Chùm ngây có nhiều
các chất trên, hơn hẳn một số cây có giá trị cao truyền thống khác như: hàm
lượng vitamin C gấp 7 lần cam, vitamin A gấp 4 lần cà rốt, calcium gấp 4 lần
sữa, chất sắt gấp 3 lần cải bó xôi, kali gấp 3 lần chuối, chất đạm gấp 2 lần sữa
chua …
Cách dùng:
- Dùng lá non nấu canh như rau bồ ngót hoặc trộn với dầu ăn, hành tây gia vị
như rau xà lách.
- Dùng hoa non, trái non xào ăn cũng rất ngon.
Có thể coi đây là loại rau sạch (Siêu sạch vì không dùng thuốc bảo vệ thực
vật và dùng lá cách đất trên 1m) có giá trị dinh dưỡng cao, phù hợp với mọi lứa
tuổi, tốt nhất cho trẻ em, người già, người suy sinh dưỡng, người có huyết áp
cao, rối loạn mỡ máu …
2. Giá trị chữa bệnh:
Các bộ phận của cây Chùm ngây: từ lá, hoa, quả, hạt, rễ, vỏ cây đều có thể
làm thuốc, vì cây Chùm ngây có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, hoạt huyết, tiêu
viêm … nên chữa và ngăn ngừa được rất nhiều bệnh (xin được liên hệ trực tiếp qua
các đài phát thanh truyền hình Đồng Nai, TP. Hồ Chí Minh, Tây Ninh …)
Chùm ngây là một trong những cây thuốc dân gian ở Ấn Độ (người ta thường dùng
vỏ và thân để trị nóng, sốt, đau dạ dày, chữa đau họng …).
III. Một số đặc điểm chính:
1. Đặc điểm thực vật:
- Là cây Sinh (mọc từ hạt) mới mọc giống cây Phượng con (cây điệp).
- Lá kép lông chim 3 lần.
- Quả non treo giống đậu đũa (nhưng quả có 3 cạnh hình tam giác, quả dài
20-30 cm khi còn non vỏ màu xanh về già chuyển sang mốc xám. Khi chín có màu
nâu, rất dễ tách vỏ. Mỗi quả có 5 đến 10 hạt).
- Hạt tròn, bên ngoài hạt có lớp màng mỏng màu trắng bao quanh, khi chín hạt
màu đen.
- Thân gỗ, xốp, tròn, cành rất giòn, cây cao trên 5-6m (sau khi trồng 5-6 năm
lấy hạt làm giống là tốt nhất).
2. Khả năng thích nghi và chống chịu:
- Chùm ngây là cây ưu nắng, có thể trồng được quanh năm trên nhiều loại đất
(trừ đất khó thoát nước, trũng, úng).
- Chống chịu sâu bệnh tốt.
- Chịu úng kém nhất là thời kỳ cây còn non.
IV. Kỹ thuật gieo trồng:
- Ngâm ủ hạt giống: hạt giống khi chín thu hoạch, tách hạt có thể gieo ngay
hoặc phơi khô rồi gieo. Ngâm hạt giống 24h, vớt ra, rửa sạch, ủ nứt nanh, chọn
hạt nứt nanh gieo vào túi bầu, hoặc gieo trực tiếp, tốt nhất nên gieo vào túi
bầu, chọn cây đồng đều đem trồng.
- Nếu trồng phân tán trong vườn nhà có thể trồng quanh năm và trồng bất cứ
chỗ nào miễn đủ nắng và thoát nước. Nếu không có đất có thể trồng trong chậu.
Nếu trồng tập trung dạng thương phẩm, thì trồng theo mật độ (1.5m x 1m) hàng
cách hàng 1.5m, cây cách cây 1m.
- Bón phân, chăm sóc (tương tự các cây trồng lâu năm khác, càng thâm canh
năng suất càng cao).
- Thu hoạch: Khi cây cao 1,5m, cắt lấy ngọn để thu hoạch lá, cắt cao 1m cách
mặt đất, sau 45 ngày cắt lần thứ hai để chừa đoạn cành cách thân 10cm, sau đó cứ
45 ngày thu hoạch 1 lứa, cũng cắt ngọn chừa cành như trên.
Nếu trồng phân tán sử dụng trong gia đình thì có thể tách lá và ngọn non ăn
dần quanh năm.
Sau trồng 1 năm cây ra hoa kết trái nếu không bấm ngọn (có thể dùng hoa non
và trái non để xào ăn).
V. Một số hạn chế cần được quan tâm:
Tuy Chùm ngây có nhiều tác dụng rất đáng được quan tâm song khi gieo trồng và
sử dụng cũng có những hạn chế cần được lưu ý:
- Về mặt trồng trọt: Không được trồng ở nơi thiếu nắng, thiếu ánh sáng cây sẽ
mọc còi cọc dễ chết, không nên trồng trên đất úng, trũng không thoát nước (cây
sẽ úa vàng và chết ngay).
- Trong y học: Phụ nữ có thai không được ăn, sử dụng các sản phẩm từ cây Chùm
ngây vì dễ dẫn đến sẩy thai. Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ cũng không nên dùng
các bài thuốc có sử dụng rễ cây Chùm ngây.
Tóm lại ngoài một số hạn chế trên, cây Chùm ngây là cây có nhiều lợi ích, nên
cần được quan tâm phát triển. Hiện nay tổ chức Y tế thế giới (WHO) và tổ chức
nông Lương quốc tế (FAO) đều đề cao cây Chùm ngây, coi nó là một cứu tinh cho
người nghèo, đặc biệt ở các nước thuộc thế giới thứ 3./.
Tác giả bài viết: KS. Trần Thị Nhàn
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét